khatvongsong
04-06-2008, 01:44 PM
Những người đồng tính nam và nữ đã thể hiện mình là người đồng tính thường phải đối mặt với những công kích bằng lời nói, hành động và sự hành hung tình dục của những cá nhân bị ám ảnh bởi sự đồng tính. Ám ảnh đồng tính (Homophobia) là từ không những chỉ sự sợ hãi vô lý của những người sợ bị người khác coi là người đồng tính luyến ái, mà nó còn là từ chỉ sự kinh bỉ dai dẳng và căm ghét những người đồng tính luyến ái.
Ám ảnh đồng tính luyến ái khiến một số người đánh những kẻ đồng tính nam hoặc chửi rủa và/hoặc đối xử tàn ác đối với những người đồng tính luyến ái hoặc cả người có thiên hướng tình dục hướng giới khác nhưng bị nhầm là người đồng tính. Tại sao mọi người lại tham gia vào những cuộc bạo lực chống lại người đồng tính? Lý do là có một số người cho rằng có sự liên hệ giữa đồng tính luyến ái với bệnh AIDS. Những người khác đoán rằng thái độ tiêu cực với bệnh AIDS chẳng qua chỉ là sự giải thích cho những quan điểm chống lại người đồng tính, mà quan điểm này vẫn còn tồn tại. Cho dù có là nguyên nhân gì đi nữa thì những cuộc bạo lực chống lại người đồng tính dường như vẫn đang tăng lên ở Mỹ. Khoảng 25% những người đồng tính nam và nữ là nạn nhân của những vụ hành hung liên quan đến thiên hướng tình dục.
Nhiều ví dụ liên quan đến ám ảnh đồng tính bắt nguồn từ sự kết án của xã hội đối với các hành động đồng tính, đặc biệt là việc quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn. Những người Phương Tây coi chủ đề quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn - có thể nhiều hơn bất kỳ hành động tình dục nào khác (kể cả thủ dâm) - là việc làm đáng bị phản đối, lên án, đáng ghê tởm và căm phẫn. Tuy nhiên điều này không nhất thiết bị phản đối ở những nơi khác trên thế giới. Ví dụ, một số nam giới và phụ nữ Mangai ở Nam Thái Bình thường quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn khi người phụ nữ có kinh. Namthanh niên và đàn ông ở vùng Siwan thuộc Nam Phi, và Kiraki thuộc New Guineacũng quan hệ kiểu này. Và cả một số cặp đồng tính luyến ái Mỹ cũng có quan hệ tình dục ở vùng trực tràng hậu môn.
Tại sao nhiều người Mỹ lại căm ghét tình dục đồng giới? Cũng giống với nhiều khía cạnh của tình dục, nhiều quan điểm văn hóa của chúng ta bắt nguồn từ những tập tục và giá trị Thiên Chúa giáo. Trong Kinh Cựu Ước (ví dụ như Malachi 2:1-3), phân (cứt) mang ý nghĩa vô cùng xấu, do đó không có gì ngạc nhiên khi nó lại được gắn với sự đồng tính luyến ái, hành vi quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn, và kẻ ngoại đạo. Căn cứ vào nhiều giải thích nghiêm khắc các đoạn trong Kinh Thánh liên quan đến các hành vi tình dục đồng giới đáng lên án, không còn nghi ngờ gì nữa người Mỹ cũng kịch liệt phản đối tình dục đồng giới. Dưới đây là giải thích của nhà nghiên cứu tình dục Alfred Kinsey và các đồng nghiệp của ông trong nghiên cứu cổ điển, Hành Vi Tình Dục ở Phụ Nữ (1953)18:
"Sự kết án chung về tình dục đồng giới trong nền văn hóa của chúng ta dường như bắt nguồn từ hàng loạt các bối cảnh lịch sử mà các bối cảnh đó rất ít khi bảo vệ các cá nhân hay duy trì tổ chức xã hội lúc đó. Trong bộ luật thời kỳ Hittite, Chaldean, và đầu Do Thái, không có sự kết án chung nào đối với những hành vi tình dục đồng giới, tuy nhiên có mức hình phạt dành cho các hoạt động đồng tính luyến ái xảy ra giữa những người có địa vị xã hội cụ thể hay tình dục đồng giới giữa những người có quan hệ huyết thống, dưới những hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt khi có sự tham gia của hành động cưỡng bức. Sự kết án chung đối với những quan hệ đồng tính (đặc biệt là đồng tính nam) bắt nguồn từ lịch sử người Do Thái vào khoảng thế kỷ thứ 7, trước Công nguyên, sau sự quay về từ cuộc đày ải Babylon... Nhiều sự kết án Talmudic được xây dựng từ sự kiện rằng những hành động đó đại diện cho cách của Canaanite, cách của Chaldean, cách của kẻ ngoại giáo, và chúng bị kết án dưới dạng sùng bái hơn là mội tội lỗi liên quan đến tình dục. Đến thời đại trung cổ, đồng tính luyến ái gắn liền với dị giáo. Tuy nhiên, với sự cải cách tục lệ (tập tục), đồng tính luyến ái đã trở thành một vấn đề liên quan đến đạo đức và cuối cùng đồng tính luyến ái là hành động liên quan đến luật hình sự." (Trang 481-482).
Trong cuốn sách có tựa đề Hãy Hỏi Tôi Bất Kỳ Điều Gì (1992)19, Marty Klein đã bổ sung:
"Sự quảng cáo của người Mỹ cũng góp phần vào chuyện này. Vì có quá nhiều quảng cáo dựa vào việc để mọi người đặt câu hỏi về khả năng tình dục của họ (để họ có thể bán được sản phẩm giúp giải tỏa những lo lắng đó), họ đã gieo những vấn đề vào trong tiềm thức của con người: Tôi có thực sự là đàn ông không? Có thực sự là phụ nữ không? Điều này khiến cho những người đồng tính luyến ái lo sợ vì nó làm suy yếu sự tự tin của con người về thiên hướng tình dục hướng tới người khác giới của họ. Khi giác quan của một người có thiên hướng tình dục khác giới về nhận dạng tình dục là yếu ớt, dễ vỡ, đồng tình luyến ái có thể gây ra những xáo trộn kinh khủng về tình cảm. Có thể dễ dàng đổ lỗi cho những người đồng tính nam về việc này. Bên cạnh đó, mặc dù mọi người đều biết và đã từng nhìn thấy những người đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết mọi người lại không biết về nó. Điều này khiến cho chúng ta dễ nhìn những người đồng tính như là "họ" chứ không phải "chúng ta", là điều gì đó khác chứ không phải con người. Và nó gây nên sự căm ghét." (trang 232)
CHỦ NGHĨA CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
Những người đồng tính nam và đồng tính nữ đang tích cực tìm kiếm sự giúp đỡ để chấm dứt những thành kiến và sự phân biệt chống lại họ do thiên hướng tình dục của họ gây ra. Họ làm việc với tất cả các cấp xã hội để nhằm thay đổi luật pháp, chống lại sự phân biệt đối xử trong công việc, sự quấy rối tình dục, loại bỏ sự ám ảnh đồng tính và đánh những người đồng tính nam, vận động gây quỹ phòng chống AIDS, giáo dục công chúng về tình dục đồng giới và đồng tính luyến ái. Mặc dù nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ tin rằng họ đang đi trên con đường hướng tới mục đích của mình, nhưng những người khác tin rằng họ vẫn còn rất nhiều việc phải làm để đạt đến mục tiêu "giải phóng tình dục đồng giới" thực sự.
Phong Trào Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính, phong trào này ngày nay được rất nhiều người biết đến, bắt đầu phát triển rầm rộ với cuộc nổi loạn Stonewall năm 1969. Cảnh sát New Yorkđã chú ý một thời gian dài những quán bar của người đồng tính luyến ái nam nhằm chống lại sự quấy rối và tiến hành bắt bớ. Vào tháng 6 năm 1969, họ đã tấn công và vây bắt quán Stonewall Inn, một quán bar dành cho người đồng tính nam ở vùng Greenwichthuộc NewYork. Khi những người bảo trợ quán bar chống đối lại, một cuộc bạo loạn đã nổ ra và kéo dài đến tận ngày hôm sau. Vụ việc này thúc đẩy sự ra đời của vô số những nhóm đòi quyền cho người đồng tính, các cuộc tuần hành, biểu tình, các hoạt động kỷ niệm và diễu hành tổ chức hàng năm, bao gồm cả Tuần Lễ Kiêu Hãnh của Người Đồng Tính Nam.
Nhiều người đã nhầm khi cho rằng, phong trào đòi quyền cho người đồng tính nam bắt đầu từ cuộc bạo loạn Stonewall, nhưng trên thực tế có hơn 40 tổ chức của người đồng tính nam và đồng tính nữ đã tập trung ở đây thời gian đó. Hai trong số những nhóm đồng tính rõ ràng ở những năm 50 và 60 là Mattachine Society và Daughters of Bilitis. Sau cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam và đồng tính nữ tập hợp vào các nhóm chính trị và các cơ quan phục vụ như Hành Động, Mặt Trận Giải Phóng Người Đồng Tính Nam, Liên Minh Những Người Hoạt Động Xã Hội ủng Hộ Đồng Tính Nam, Những Người Ủng Hộ Và Bảo Vệ Cho Người Đồng Tính, Công Cuộc Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính Nữ, Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Nam Và Nữ, Những Người Ủng Hộ Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính Nam Quốc Gia, Quốc Gia Đồng Tính Nam, ở đây tôi mới chỉ nêu tên một vài tổ chức.
Như đã trình bày ở đầu chương này, thiên hướng tình dục - đặc biệt là đồng tính luyến ái và ái nam ái nữ - là chủ đề hiện nay được tranh luận sôi nổi. Bất kỳ cuộc đấu tranh nào cũng có mặt tích cực bất kể ý kiến của người khác thế nào. "Vấn đề đồng tính luyến ái" tạo cơ hội cho người Mỹ suy nghĩ một cách nghiêm túc về cuộc sống ở thế kỷ 21. Nó giúp cho con người học cách chung sống với những người mà có thể họ không đồng tình. Nó thúc đẩy họ phải xem xét quan điểm của mình và quyết định xem những quan điểm đó có hợp lý hay không. Đồng tính luyến ái theo con người suốt trong một thời gian dài. Người Mỹ bây giờ đã chú ý một cách đầy đủ đến vấn đề này.
Suy Nghĩ Cá Nhân
Đâu là những ý kiến đồng tình và phản đối việc làm luật "quyền bình đẳng" cho những người đồng tính?Còn việc làm luật "quyền đặc biệt" thì sao?
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
1. Thiên Hướng Tình Dục là từ dùng để chỉ sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới, khác giới hay đối với cả hai. Một người bị hấp dẫn bởi những người khác giới được gọi là heterosexual (người có thiên hướng tình dục với người khác giới) Một người bị hấp dẫn bởi những người cùng giới được gọi là người homosexual (đồng tính luyến ái) hay gay (đồng tình nam) hay lesbian (đồng tính nữ). Người bị hấp dẫn bởi cả hai giới được gọi là bisexual (ái nam ái nữ).Từ thiên hướng tình dục đượcưa chuộng hơn từ sở thích tình dục, vì sở thích tình dục có ý rằng sự hấp dẫn tình dục là vấn đề của sự lựa chọn.
2. Vào những năm 1940 và 1950, Alfred Kinsey và các đồng nghiệp của ông đã đưa ra khái niệm rằng thiên hướng tình dục tồn tại dọc một thể liên tục. Chúng ta cũng cần phân biệt giữa thiên hướng tình dục với hành vi tình dục. Một người có thể có hoặc có thể không lựa chọn việc thể hiện thiên hướng tình dục của mình. Theo ước tính hiện tại thì có khoảng 4% nam giới và từ 1% đến 2% phụ nữ ở Mỹ là những người hoàn toàn đồng tính luyến ái.
3. Không ai biết chính xác đâu là các nguyên nhân gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái. Đến nay, những cố gắng nhằm xác định cụ thể các nguyên nhân về mặt sinh học, tâm lý học và xã hội vẫn chưa mang lại kết quả. Rất có khả năng, nguyên nhân của đồng tính luyến ái là do những tương tác phức tạp của các nhân tố như sinh học, tâm lý học và xã hội. Quan điểm này được biết đến dưới tên học thuyết tương tác về đồng tính luyến ái.
4. Cộng đồng các bác sĩ chăm sóc sức khỏe tinh thần, những người bị ảnh hưởng bởi học thuyết của Freud, quan niệm một cách truyền thống cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh rối loạn tinh thần. Tuy nhiên, cùng với những bằng chứng ra tăng cho thấy điều ngược lại và thái độ thoải mái hơn về đồng tính luyến ái ở Mỹ, năm 1973, Hiệp Hội Tâm Thần Mỹ đã bỏ phiếu tán thành việc loại bỏ đồng tính luyến ái coi đó như một dạng bệnh tâm thần ra khỏi Triệu Chứng Và Sách Chỉ Dẫn Thống Kê Về Các Rối Loạn Tinh Thần (DMS). Nhiều chuyên gia về tình dục lập luận rằng không có lý do gì, ít nhất là trên lĩnh vực sức khỏe tinh thần, để phải cố gắng định hướng lại thiên hướng tình dục của người đồng tính luyến ái.
5. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ có các mối quan hệ gắn bó ràng buộc, và những người đồng tính luyến ái này, giống với những người có xu hướng tình dục hướng người khác giới, đều thấy thỏa mãn với những quan hệ đó.
6. Các cặp đồng tính luyến ái có thể quyết định nuôi con. Những nhà nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em được những người đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có gì khác so với trẻ em được các cặp khác nuôi dưỡng ở những điểm quan trọng như sự điều chỉnh cuộc sống chung, nhận dạng giới, vai trò về giới, và sự thông minh. Họ cũng chỉ ra rằng trẻ em được những cặp đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có nhiều khả năng sẽ trở thành người đồng tính luyến ái hơn những trẻ em được nuôi dưỡng bởi những cặp có thiên hướng tình dục hướng giới tính khác.
7. Đồng tính luyến ái, tình dục hướng giới tính khác và ái nam ái nữ, tất cả những thiên hướng tình dục này đều trải qua cùng các giai đoạn liên quan đến hưng phấn tình dục và phản ứng. Những người đồng tính nam và những người đồng tính nữ phản ứng với các kích thích tình dục và tham gia vào các hành vi tình dục giống với người có thiên hướng tình dục hướng tới giới khác và người ái nam ái nữ.
8. Những người đồng tính nam và nữ đã thể hiện mình là người đồng tính thường phải đối mặt với những công kích bằng lời nói, hành động và sự hành hung tình dục của những cá nhân bị ám ảnh bởi sự đồng tính. Ám ảnh đồng tính (Homophobia) là từ không những chỉ sự sợ hãi vô lý của những người sợ bị người khác coi là người đồng tính luyến ái, mà nó còn là từ chỉ sự kinh bỉ dai dẳng và căm ghét những người đồng tính luyến ái. Ám ảnh đồng tính luyến ái khiến một số người đánh những kẻ đồng tính nam hoặc chửi rủa và/hoặc đối xử tàn ác đối với những người đồng tính luyến ái hoặc cả người có thiên hướng tình dục hướng giới khác nhưng bị nhầm là người đồng tính.
9. Những người đồng tính nam và đồng tính nữ đang tích cực làm việc với tất cả các cấp xã hội để nhằm thay đổi luật pháp, chống lại sự phân biệt đối xử trong công việc, sự quấy rối tình dục, loại bỏ sự ám ảnh đồng tính và đánh những người đồng tính nam, vận động gây quỹ phòng chống AIDS, giáo dục công chúng về tình dục đồng giới và đồng tính luyến ái. Phong trào đòi quyền cho người đồng tính bắt đầu phát triển rầm rộ với cuộc nổi loạn Stonewall năm 1969. Sau cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam và đồng tính nữ tập hợp vào rất nhiều nhóm chẳng hạn như Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Nam và Nữ Quốc gia.
Ám ảnh đồng tính luyến ái khiến một số người đánh những kẻ đồng tính nam hoặc chửi rủa và/hoặc đối xử tàn ác đối với những người đồng tính luyến ái hoặc cả người có thiên hướng tình dục hướng giới khác nhưng bị nhầm là người đồng tính. Tại sao mọi người lại tham gia vào những cuộc bạo lực chống lại người đồng tính? Lý do là có một số người cho rằng có sự liên hệ giữa đồng tính luyến ái với bệnh AIDS. Những người khác đoán rằng thái độ tiêu cực với bệnh AIDS chẳng qua chỉ là sự giải thích cho những quan điểm chống lại người đồng tính, mà quan điểm này vẫn còn tồn tại. Cho dù có là nguyên nhân gì đi nữa thì những cuộc bạo lực chống lại người đồng tính dường như vẫn đang tăng lên ở Mỹ. Khoảng 25% những người đồng tính nam và nữ là nạn nhân của những vụ hành hung liên quan đến thiên hướng tình dục.
Nhiều ví dụ liên quan đến ám ảnh đồng tính bắt nguồn từ sự kết án của xã hội đối với các hành động đồng tính, đặc biệt là việc quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn. Những người Phương Tây coi chủ đề quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn - có thể nhiều hơn bất kỳ hành động tình dục nào khác (kể cả thủ dâm) - là việc làm đáng bị phản đối, lên án, đáng ghê tởm và căm phẫn. Tuy nhiên điều này không nhất thiết bị phản đối ở những nơi khác trên thế giới. Ví dụ, một số nam giới và phụ nữ Mangai ở Nam Thái Bình thường quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn khi người phụ nữ có kinh. Namthanh niên và đàn ông ở vùng Siwan thuộc Nam Phi, và Kiraki thuộc New Guineacũng quan hệ kiểu này. Và cả một số cặp đồng tính luyến ái Mỹ cũng có quan hệ tình dục ở vùng trực tràng hậu môn.
Tại sao nhiều người Mỹ lại căm ghét tình dục đồng giới? Cũng giống với nhiều khía cạnh của tình dục, nhiều quan điểm văn hóa của chúng ta bắt nguồn từ những tập tục và giá trị Thiên Chúa giáo. Trong Kinh Cựu Ước (ví dụ như Malachi 2:1-3), phân (cứt) mang ý nghĩa vô cùng xấu, do đó không có gì ngạc nhiên khi nó lại được gắn với sự đồng tính luyến ái, hành vi quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn, và kẻ ngoại đạo. Căn cứ vào nhiều giải thích nghiêm khắc các đoạn trong Kinh Thánh liên quan đến các hành vi tình dục đồng giới đáng lên án, không còn nghi ngờ gì nữa người Mỹ cũng kịch liệt phản đối tình dục đồng giới. Dưới đây là giải thích của nhà nghiên cứu tình dục Alfred Kinsey và các đồng nghiệp của ông trong nghiên cứu cổ điển, Hành Vi Tình Dục ở Phụ Nữ (1953)18:
"Sự kết án chung về tình dục đồng giới trong nền văn hóa của chúng ta dường như bắt nguồn từ hàng loạt các bối cảnh lịch sử mà các bối cảnh đó rất ít khi bảo vệ các cá nhân hay duy trì tổ chức xã hội lúc đó. Trong bộ luật thời kỳ Hittite, Chaldean, và đầu Do Thái, không có sự kết án chung nào đối với những hành vi tình dục đồng giới, tuy nhiên có mức hình phạt dành cho các hoạt động đồng tính luyến ái xảy ra giữa những người có địa vị xã hội cụ thể hay tình dục đồng giới giữa những người có quan hệ huyết thống, dưới những hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt khi có sự tham gia của hành động cưỡng bức. Sự kết án chung đối với những quan hệ đồng tính (đặc biệt là đồng tính nam) bắt nguồn từ lịch sử người Do Thái vào khoảng thế kỷ thứ 7, trước Công nguyên, sau sự quay về từ cuộc đày ải Babylon... Nhiều sự kết án Talmudic được xây dựng từ sự kiện rằng những hành động đó đại diện cho cách của Canaanite, cách của Chaldean, cách của kẻ ngoại giáo, và chúng bị kết án dưới dạng sùng bái hơn là mội tội lỗi liên quan đến tình dục. Đến thời đại trung cổ, đồng tính luyến ái gắn liền với dị giáo. Tuy nhiên, với sự cải cách tục lệ (tập tục), đồng tính luyến ái đã trở thành một vấn đề liên quan đến đạo đức và cuối cùng đồng tính luyến ái là hành động liên quan đến luật hình sự." (Trang 481-482).
Trong cuốn sách có tựa đề Hãy Hỏi Tôi Bất Kỳ Điều Gì (1992)19, Marty Klein đã bổ sung:
"Sự quảng cáo của người Mỹ cũng góp phần vào chuyện này. Vì có quá nhiều quảng cáo dựa vào việc để mọi người đặt câu hỏi về khả năng tình dục của họ (để họ có thể bán được sản phẩm giúp giải tỏa những lo lắng đó), họ đã gieo những vấn đề vào trong tiềm thức của con người: Tôi có thực sự là đàn ông không? Có thực sự là phụ nữ không? Điều này khiến cho những người đồng tính luyến ái lo sợ vì nó làm suy yếu sự tự tin của con người về thiên hướng tình dục hướng tới người khác giới của họ. Khi giác quan của một người có thiên hướng tình dục khác giới về nhận dạng tình dục là yếu ớt, dễ vỡ, đồng tình luyến ái có thể gây ra những xáo trộn kinh khủng về tình cảm. Có thể dễ dàng đổ lỗi cho những người đồng tính nam về việc này. Bên cạnh đó, mặc dù mọi người đều biết và đã từng nhìn thấy những người đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết mọi người lại không biết về nó. Điều này khiến cho chúng ta dễ nhìn những người đồng tính như là "họ" chứ không phải "chúng ta", là điều gì đó khác chứ không phải con người. Và nó gây nên sự căm ghét." (trang 232)
CHỦ NGHĨA CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
Những người đồng tính nam và đồng tính nữ đang tích cực tìm kiếm sự giúp đỡ để chấm dứt những thành kiến và sự phân biệt chống lại họ do thiên hướng tình dục của họ gây ra. Họ làm việc với tất cả các cấp xã hội để nhằm thay đổi luật pháp, chống lại sự phân biệt đối xử trong công việc, sự quấy rối tình dục, loại bỏ sự ám ảnh đồng tính và đánh những người đồng tính nam, vận động gây quỹ phòng chống AIDS, giáo dục công chúng về tình dục đồng giới và đồng tính luyến ái. Mặc dù nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ tin rằng họ đang đi trên con đường hướng tới mục đích của mình, nhưng những người khác tin rằng họ vẫn còn rất nhiều việc phải làm để đạt đến mục tiêu "giải phóng tình dục đồng giới" thực sự.
Phong Trào Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính, phong trào này ngày nay được rất nhiều người biết đến, bắt đầu phát triển rầm rộ với cuộc nổi loạn Stonewall năm 1969. Cảnh sát New Yorkđã chú ý một thời gian dài những quán bar của người đồng tính luyến ái nam nhằm chống lại sự quấy rối và tiến hành bắt bớ. Vào tháng 6 năm 1969, họ đã tấn công và vây bắt quán Stonewall Inn, một quán bar dành cho người đồng tính nam ở vùng Greenwichthuộc NewYork. Khi những người bảo trợ quán bar chống đối lại, một cuộc bạo loạn đã nổ ra và kéo dài đến tận ngày hôm sau. Vụ việc này thúc đẩy sự ra đời của vô số những nhóm đòi quyền cho người đồng tính, các cuộc tuần hành, biểu tình, các hoạt động kỷ niệm và diễu hành tổ chức hàng năm, bao gồm cả Tuần Lễ Kiêu Hãnh của Người Đồng Tính Nam.
Nhiều người đã nhầm khi cho rằng, phong trào đòi quyền cho người đồng tính nam bắt đầu từ cuộc bạo loạn Stonewall, nhưng trên thực tế có hơn 40 tổ chức của người đồng tính nam và đồng tính nữ đã tập trung ở đây thời gian đó. Hai trong số những nhóm đồng tính rõ ràng ở những năm 50 và 60 là Mattachine Society và Daughters of Bilitis. Sau cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam và đồng tính nữ tập hợp vào các nhóm chính trị và các cơ quan phục vụ như Hành Động, Mặt Trận Giải Phóng Người Đồng Tính Nam, Liên Minh Những Người Hoạt Động Xã Hội ủng Hộ Đồng Tính Nam, Những Người Ủng Hộ Và Bảo Vệ Cho Người Đồng Tính, Công Cuộc Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính Nữ, Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Nam Và Nữ, Những Người Ủng Hộ Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính Nam Quốc Gia, Quốc Gia Đồng Tính Nam, ở đây tôi mới chỉ nêu tên một vài tổ chức.
Như đã trình bày ở đầu chương này, thiên hướng tình dục - đặc biệt là đồng tính luyến ái và ái nam ái nữ - là chủ đề hiện nay được tranh luận sôi nổi. Bất kỳ cuộc đấu tranh nào cũng có mặt tích cực bất kể ý kiến của người khác thế nào. "Vấn đề đồng tính luyến ái" tạo cơ hội cho người Mỹ suy nghĩ một cách nghiêm túc về cuộc sống ở thế kỷ 21. Nó giúp cho con người học cách chung sống với những người mà có thể họ không đồng tình. Nó thúc đẩy họ phải xem xét quan điểm của mình và quyết định xem những quan điểm đó có hợp lý hay không. Đồng tính luyến ái theo con người suốt trong một thời gian dài. Người Mỹ bây giờ đã chú ý một cách đầy đủ đến vấn đề này.
Suy Nghĩ Cá Nhân
Đâu là những ý kiến đồng tình và phản đối việc làm luật "quyền bình đẳng" cho những người đồng tính?Còn việc làm luật "quyền đặc biệt" thì sao?
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
1. Thiên Hướng Tình Dục là từ dùng để chỉ sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới, khác giới hay đối với cả hai. Một người bị hấp dẫn bởi những người khác giới được gọi là heterosexual (người có thiên hướng tình dục với người khác giới) Một người bị hấp dẫn bởi những người cùng giới được gọi là người homosexual (đồng tính luyến ái) hay gay (đồng tình nam) hay lesbian (đồng tính nữ). Người bị hấp dẫn bởi cả hai giới được gọi là bisexual (ái nam ái nữ).Từ thiên hướng tình dục đượcưa chuộng hơn từ sở thích tình dục, vì sở thích tình dục có ý rằng sự hấp dẫn tình dục là vấn đề của sự lựa chọn.
2. Vào những năm 1940 và 1950, Alfred Kinsey và các đồng nghiệp của ông đã đưa ra khái niệm rằng thiên hướng tình dục tồn tại dọc một thể liên tục. Chúng ta cũng cần phân biệt giữa thiên hướng tình dục với hành vi tình dục. Một người có thể có hoặc có thể không lựa chọn việc thể hiện thiên hướng tình dục của mình. Theo ước tính hiện tại thì có khoảng 4% nam giới và từ 1% đến 2% phụ nữ ở Mỹ là những người hoàn toàn đồng tính luyến ái.
3. Không ai biết chính xác đâu là các nguyên nhân gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái. Đến nay, những cố gắng nhằm xác định cụ thể các nguyên nhân về mặt sinh học, tâm lý học và xã hội vẫn chưa mang lại kết quả. Rất có khả năng, nguyên nhân của đồng tính luyến ái là do những tương tác phức tạp của các nhân tố như sinh học, tâm lý học và xã hội. Quan điểm này được biết đến dưới tên học thuyết tương tác về đồng tính luyến ái.
4. Cộng đồng các bác sĩ chăm sóc sức khỏe tinh thần, những người bị ảnh hưởng bởi học thuyết của Freud, quan niệm một cách truyền thống cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh rối loạn tinh thần. Tuy nhiên, cùng với những bằng chứng ra tăng cho thấy điều ngược lại và thái độ thoải mái hơn về đồng tính luyến ái ở Mỹ, năm 1973, Hiệp Hội Tâm Thần Mỹ đã bỏ phiếu tán thành việc loại bỏ đồng tính luyến ái coi đó như một dạng bệnh tâm thần ra khỏi Triệu Chứng Và Sách Chỉ Dẫn Thống Kê Về Các Rối Loạn Tinh Thần (DMS). Nhiều chuyên gia về tình dục lập luận rằng không có lý do gì, ít nhất là trên lĩnh vực sức khỏe tinh thần, để phải cố gắng định hướng lại thiên hướng tình dục của người đồng tính luyến ái.
5. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ có các mối quan hệ gắn bó ràng buộc, và những người đồng tính luyến ái này, giống với những người có xu hướng tình dục hướng người khác giới, đều thấy thỏa mãn với những quan hệ đó.
6. Các cặp đồng tính luyến ái có thể quyết định nuôi con. Những nhà nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em được những người đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có gì khác so với trẻ em được các cặp khác nuôi dưỡng ở những điểm quan trọng như sự điều chỉnh cuộc sống chung, nhận dạng giới, vai trò về giới, và sự thông minh. Họ cũng chỉ ra rằng trẻ em được những cặp đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có nhiều khả năng sẽ trở thành người đồng tính luyến ái hơn những trẻ em được nuôi dưỡng bởi những cặp có thiên hướng tình dục hướng giới tính khác.
7. Đồng tính luyến ái, tình dục hướng giới tính khác và ái nam ái nữ, tất cả những thiên hướng tình dục này đều trải qua cùng các giai đoạn liên quan đến hưng phấn tình dục và phản ứng. Những người đồng tính nam và những người đồng tính nữ phản ứng với các kích thích tình dục và tham gia vào các hành vi tình dục giống với người có thiên hướng tình dục hướng tới giới khác và người ái nam ái nữ.
8. Những người đồng tính nam và nữ đã thể hiện mình là người đồng tính thường phải đối mặt với những công kích bằng lời nói, hành động và sự hành hung tình dục của những cá nhân bị ám ảnh bởi sự đồng tính. Ám ảnh đồng tính (Homophobia) là từ không những chỉ sự sợ hãi vô lý của những người sợ bị người khác coi là người đồng tính luyến ái, mà nó còn là từ chỉ sự kinh bỉ dai dẳng và căm ghét những người đồng tính luyến ái. Ám ảnh đồng tính luyến ái khiến một số người đánh những kẻ đồng tính nam hoặc chửi rủa và/hoặc đối xử tàn ác đối với những người đồng tính luyến ái hoặc cả người có thiên hướng tình dục hướng giới khác nhưng bị nhầm là người đồng tính.
9. Những người đồng tính nam và đồng tính nữ đang tích cực làm việc với tất cả các cấp xã hội để nhằm thay đổi luật pháp, chống lại sự phân biệt đối xử trong công việc, sự quấy rối tình dục, loại bỏ sự ám ảnh đồng tính và đánh những người đồng tính nam, vận động gây quỹ phòng chống AIDS, giáo dục công chúng về tình dục đồng giới và đồng tính luyến ái. Phong trào đòi quyền cho người đồng tính bắt đầu phát triển rầm rộ với cuộc nổi loạn Stonewall năm 1969. Sau cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam và đồng tính nữ tập hợp vào rất nhiều nhóm chẳng hạn như Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Nam và Nữ Quốc gia.